Ông Cấn Văn Lực: ‘Thị trường tài chính Việt Nam cần minh bạch hơn’

Theo chuyên gia, Việt Nam đang trong GĐ tái cơ cấu nền kinh tế trong đấy có phân khúc tài chính nên còn nhiều việc phải làm.

– Ông phân tách thế nào về diễn biến phân khúc tài chính toàn cầu từ đầu năm đến nay?

– Tôi theo dõi và thấy rằng phân khúc tài chính toàn cầu từ đầu năm đến nay tăng trưởng ổn định và tích cực.

Cụ thể, nhiều quốc tăng thêm cường cải 1 sốh thể chế tài chính, đặc trưng là năng lực để chống chọi có 1 số cú sốc ngoại khu thông qua xử lý 1 số vấn đề cốt lõi của hệ thống như: chất lượng tài sản, nợ xấu, có chéo, tiếp cận tín dụng, tính minh bạch, quản lý phân khúc phái sinh…

Các nước cũng tăng cường dự trữ ngoại hối, đề nghị hệ thống ngân hàng, phân khúc chứng khoán và bảo hiểm vận hành theo hướng nghiêm ngặt hơn, tuân thủ thông lệ quốc tế… Vì thế, khả năng sinh lời, quản lý rủi ro của hệ thống bao gồm khối tài chính ngân hàng, bảo hiểm đã cải thiện.

Trong năm 2017, phân khúc chứng khoán và ngân hàng có tăng trưởng tốt. Đầu năm có thời điểm cả hai lĩnh vực này điều chỉnh hơi nóng. Dù không có cú sốc lớn nhưng về căn bản phân khúc chứng khoán đang điều chỉnh theo hướng tích cực và về đúng có giá trị.

Bên cạnh đấy phân khúc tài chính toàn cầu vẫn tồn ở 1 số hạn chế. Xuất hiện 1 số rủi ro mới như ngân hàng trung ương 1 số quốc gia thắt chặt chính sách phân phối hàng tiền tệ thông qua việc cắt giảm mua tài sản xấu. Thậm chí 1 số ngân hàng đã phân phối bớt 1 số tài sản sản trước đấy mua về. Không ít ngân hàng trung ương ở 1 số nước lớn tăng lãi suất, khiến lãi suất bằng USD tăng lên, sức ép lên vấn đề tỷ giá và thanh khoản của hệ thống tài chính cắt giảm so có trước đấy.

Chỉ số tài chính do IMF, City Bank đo lường cho thấy điều kiện tài chính phát triển thành căng hơn và kém thanh khoản hơn so có trước.

– Diễn biến này ảnh hưởng ra sao đến phân khúc tài chính Việt Nam?

– Với Việt Nam, phân khúc ngân hàng, phân khúc chứng khoán và phân khúc bảo hiểm được xem là 3 trụ cột của phân khúc vốn nên cũng có các ảnh hưởng nhất định.

Về phân khúc tài chính ngân hàng, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam thời gian qua tương đối ổn định. Bằng chứng là hồi tháng tháng 5, hãng Fitch Ratings đã nâng hạng tín nhiệm quốc gia cho Việt Nam bởi kinh tế vĩ mô căn bản là ổn định. Hai động lực quan trọng nền kinh tế là xuất khẩu và tiêu dùng tăng trưởng tốt đồng thời Việt Nam kiểm soát tốt hơn nợ công.

Cách đấy vài hôm, Moody’s nâng mức xếp hạng tín nhiệm cho 14 ngân hàng TMCP Việt Nam và triển vọng lâu dài chuyển từ mức độ ổn định sang tích cực.

Chuyên gia tài chính ngân hàng Cấn Văn Lực.

Chuyên gia tài chính ngân hàng Cấn Văn Lực.

Ngoài ra, chúng tôi có đánh giá thêm thì thấy rằng, tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng trong 7 tháng vừa qua đã tăng 8% và tăng đều qua 1 số tháng. Dữ trự ngoại hối cũng ở mức cao, đặc trưng lạm phát được kiểm soát, tỷ giá và lãi suất tương đối ổn định.

Từ đầu năm đến nay VNĐ mất giá so có USD dao động 2,5%. Đây là mức nhận lời được trong bối cảnh USD tăng giá rất mạnh thời gian qua kéo theo nhiều đồng tiền khác cũng mất giá 3-7%. Ngoài ra, lợi nhuận, khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng ở mức độ tốt hơn. 7 tháng đầu năm lợi nhuận của ngân hàng niêm yết tăng 30-50%, mức tăng trưởng tích cực.

Thị trường chứng khoàn trong 7 tháng qua đã có các điều chỉnh do tăng trưởng hơi nóng của năm ngoái. Tính đến 10/8 chỉ số VN-Index giảm dao động gần 3% so có cuối năm 2017. Tất nhiên đấy là mức giảm thấp so có 1 số quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Indonesia, Philippines…

Còn phân khúc bảo hiểm tôi cho rằng vẫn giữ được mức tăng trưởng đều và tích cực trong dao động 10 năm qua. Theo đấy, doanh thu phí bảo hiểm cả nhân thọ và phi nhân thọ tăng mức 15-17% bình quân 1 năm. Đây là mức tốt trong khu vực.

– Vậy các mặt tồn ở của 3 phân khúc này là gì?

Theo tôi, mặt chưa được của hệ thống ngân hàng là quá trình tái cơ cấu, đặc trưng là 1 số ngân hàng yếu kém vẫn diễn ra khá chậm. Có thời điểm thanh khoản của hệ thống ngân hàng chưa thực sự bền vững.

Thị trường chứng khoán về căn bản vẫn phát triển ở mức theo chiều sâu hơn nhưng vẫn có tác động qua lại giữa phân khúc chứng khoán cơ sở và phái sinh, trong đấy hiện tượng đầu cơ manh nha quay trở lại kể cả phân khúc phái sinh. Ngoài ra, mức độ phong phú hóa của hàng hóa, nhà đầu tư chưa cao. Ví dụ hiện trên sàn phái sinh mới chỉ có hợp đồng tương lai dựa vào chỉ số VN30. Do chưa nhiều hàng hóa, vấn đề thanh khoản cũng như rủi ro chỉ tập trung vào 1 số hàng hóa.

Hiện tượng đòn bẩy tài chính của công ty chứng khoàn và nhà đầu tư cũng ở mức độ tương đối cao trong thời gian qua điều này cũng tiềm ẩn rủi ro. Ngoài ra, mức độ minh bạch của phân khúc chứng khoán vẫn phải tiếp tục được cải thiện, chế tài phải rõ ràng hơn, quản trị công ty cũng cần giám sát ở mức tốt hơn.

Trên lĩnh vực bảo hiểm, vấn đề tồn ở lớn nhất là tranh đua chưa thực sự lành mạnh. Thủ tục liên quan đến bồi thường đến bảo hiểm còn phức tạp, vì vậy đôi khi người dân chưa có niềm tin cao, hoặc khi xảy ra rủi ro 1 số công ty mất quá nhiều thời gian để xử lý thủ tục bồi thường. Vốn đầu tư từ bảo hiểm trở lại nền kinh tế dù có cải thiện nhưng có thể làm tốt hơn giai đoạn này để đạt được hệ số sinh lời cao hơn cũng như cung ứng tốt hơn cho nền kinh tế, đặc trưng là nguồn vốn trung dài hạn.

Ba phân khúc này được xem là huyết mạch của nền kinh tế. Tại nhiều quốc gia trên địa cầu họ tính toán được mức độ đấyng góp của 1 số khối này vào nền kinh tế cụ thể GDP là bao nhiêu song ở Việt Nam chúng ta chưa có tính toán phân tách tổng thể.

Riêng lĩnh vực tài chính ngân hàng bình thường ở 1 số nước mức độ đấyng góp dao động 7-10% GDP. Việt Nam muốn biết chính xác cần tính toán cụ thể, song tôi chuẩn bị ở mức 5-6% GDP.

– Trái phiếu Chính phủ cũng đấyng góp không nhỏ cho phân khúc vốn Việt Nam. Ông nhìn cảm thấy sao về lĩnh vực này?

– Thị trường trái phiếu Chính phủ về căn bản phát triển tốt và lành mạnh thời gian qua, trong đấy đã huy động được nguồn vốn trung – dài hạn cung cấp đề nghị của ngân sách nhà nước cũng như các nhu cầu khác.

Tuy nhiên phân khúc này vẫn còn kém phát triển nên diện tích còn nhỏ bé. Theo số liệu của ADB, trái phiếu công ty ở Việt Nam chỉ gần 2% GDP – mức thấp so có khu vực 7-10% thậm chí 1 số nước cao hơn.

Lý do nằm ở chỗ tư duy của công ty chưa thực sự muốn công khai minh bạch nên họ không quan tâm nhiều đến việc phải minh bạch phải công khai để phát hành trái phiếu công ty. Thứ hai, hàng hóa ở phân khúc này chưa nhiều nên thanh khoản thấp, vì vậy khi công ty phát hành trái phiếu muốn phân phối đi cũng gặp khó và kinh phí tốn kém. Cuối cộng là Việt Nam chưa có hệ thống xếp hạng và phân tách tín nhiệm để công ty có thể phát hành trái phiếu ra ngoài hoặc nhà đầu tư có thể căn cứ vào đấy để chọn lọc mua hoặc phân phối có lãi suất quyến rũ.

Liên quan đến hệ thống tài liệu dữ liệu của công ty, tôi cũng thấy chưa chuẩn mực, chưa minh bạch khiến nhà đầu tư khó kiếm tài liệu kể cả tài liệu tiếng Anh. Những điều này cần được khắc phục ở phân khúc trái phiếu của chúng ta.

– Còn tính minh bạch của phân khúc nhìn chung, ông phân tách ra sao?

– Minh bạch rõ ràng có cải thiện trong thời gian qua. Chúng ta ra mắt nợ xấu, nhiều công ty niêm yết ra mắt số liệu tài chính theo quý, nhiều tổ chức tài chính đã thuê kiểm toán nước ngoài, tổ chức tài chính cũng thuê 1 số hãng tín nhiệm quốc tế xếp hạng theo kỳ. Có đơn vị quan tâm hơn đến việc báo cáo tài chính bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh…

Vấn đề cung cấp tính minh bạch nhiều hay chưa thì tôi thấy rằng Việt Nam cần cải thiện và phấn đầu nhiều Bên cạnh đấy để tính minh bạch cung cấp đề nghị gồm: đầy đủ, kịp thời, chính xác, đúng đối tượng…

Vẫn nhiều công ty kể cả 1 số định chế tài chính chậm niêm yết, chậm ra mắt tài liệu… Rõ ràng chúng ta cần quan tâm để cải thiện trong thời gian tới.

– Làm thế nào để khắc phục 1 số hạn chế của phân khúc vốn đang gặp phải?

– Chúng ta đang trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nhìn chung và phân khúc tài chính ngân hàng nói riêng. Thể chế cho phân khúc tài chính ở Việt Nam có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm.

Tôi lấy ví dụ liên quan đến khuôn khổ pháp lý. Tôi thấy rằng cần có khuôn khổ pháp lý để Ngân hàng Nhà nước vận hành theo hướng độc lập hơn, tân tiến hơn. Luật lệ bảo hiểm tiền gửi rõ ràng cần cải thiện, dù ban hành lâu rồi nhưng vẫn phải sửa đổi. Hay cơ chế chính sách phân phối hàng chi phối liên quan đến mô hình quản lý vốn nhà nước ở 1 số tổ chức tài chính trong đấy có 1 số ngân hàng thương mại. Cần có quy định nhằm tạo ra sự phối hợp giữa hệ thống ngân hàng, hệ thống bảo hiển, fintech, giám sát tập đoàn tài chính… Bởi rất có thể tiềm ẩn rủi ro hệ thống về lâu dài khi đan xen giữa ngân hàng có bảo hiểm, bảo hiểm có chứng khoán hoặc chứng khoán có ngân hàng.

Ngoài ra là vấn đề có trong 1 số tổ chức tài chính. Nhà nước hiện nắm cổ phần lớn ở 1 số tổ chức tín dụng, chúng ta cần công đoạn để giảm dần có nhà nước.

Vấn đề giám sát tài chính giai đoạn này về căn bản Việt Nam chủ yếu giám sát vi mô. Tức là từng định chế tài chính theo chuyên ngành nhưng có các rủi ro vĩ mô, liên quan đến có tài chính chéo trong hệ thống ngân hàng, tài chính ngầm… cần cải tiến thời gian tới.

Về kết hợp chính sách phân phối hàng giữa tiền tệ và tài khóa, tôi mong muốn Việt Nam sẽ có chương trình lập trình tài chính quốc gia. Theo đấy, mỗi lần chính sách phân phối hàng tiền tệ, tài khóa có điều chỉnh hệ thống sẽ đo đếm mức độ tác động lên lạm phát, cán cân chi trả, nợ công…

Khả năng tiếp cận phân khúc tài chính ngân hàng của người dân Việt Nam vẫn còn tương đối thấp. Theo thống kế của WB, dao động 40% dân số Việt Nam có tài khoản ngân hàng, so có mức 78% ở Trung Quốc, 70% của khu vực châu Á Thái Bình Dương. Rõ ràng chúng ta còn nhiều dư địa để tăng thêm khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính ngân hàng cho người dân và công ty.

Thanh Thư

Những hiện trạng và biện pháp để tái cấu trúc phân khúc vốn – tài chính sẽ được trao đổi trong chuyên đề thứ hai thuộc Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2018 (Vietnam Economic Forum – ViEF) khai mạc sáng 21/8 ở Hà Nội.

Diễn đàn là nơi 1 số nhà quản lý, giới chuyên gia và công ty cộng nhau đánh giá toàn cảnh phân khúc vốn và tài chính ở Việt Nam, đồng thời đưa ra các phương án, đề xuất biện pháp thi công phân khúc vốn cho đầu tư dài hạn. Chương trình do VnExpress phối hợp cộng Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân của chính phủ tổ chức.

Theo dõi chương trình và đăng ký tham dự ở: https://vief.vnexpress.net/

Bạn đang xem chuyên mục kinh doanh duantheresidence.net ở https://duantheresidence.net

Xem Thêm Thông Tin:
==> Những lưu ý và thủ tục khi làm hồ sơ vay vốn ngân hàng
==> Hướng dẫn 1 sốh tính lãi suất vay ngân hàng mua nhà đầy đủ nhất
==> Diện tích và dân số 1 số Quận, Huyện ở TP.HCM khác nhau ra sao?
==> Những điều cần biết khi đặt cọc giao dịch nhà
==> Phong thủy nhà ở: Những việc cần làm khi dọn vào mới
==> Hướng dẫn làm sổ đỏ cho nhà đất giao dịch viết tay
==> Những Kinh nghiệm mua nhà mà tôi chia sẽ
==> Những lưu ý chẳng thể bỏ qua khi vay tiền mua nhà
==> Thủ tục tách sổ đỏ như thế nào ?
==> Bảng so sánh giúp quý khách biết được nên vay tiền mua nhà hay thuê
==> Hướng dẫn 1 sốh tính kinh phí xây nhà dễ thực hiện và tương đối chính xác
==> Hướng dẫn thủ tục chuyển đổi đất nông nghiệp sang thổ cư
==> Phân biệt sổ hồng và sổ đỏ khác nhau ra sao?
==> Thủ tục giao dịch nhà ở hình thành trong tương lai
==> Hầm chui An Sương – Thông xe mở “nút thắt” cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn
==> Dự án Tuyến metro số 2 Bến Thành – Tham Lương
==> Chủ đầu tư Kim Tâm

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *